Ngay sau khi Luật được thông qua, công tác chỉ đạo, triển khai thi hành đã được thực hiện khẩn trương. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 762/QĐ-TTg ngày 22/8/2024 về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thủ đô. Trên cơ sở các kế hoạch và văn bản chỉ đạo, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành và UBND Thành phố Hà Nội đã triển khai công tác tổ chức thi hành Luật một cách quyết liệt, toàn diện, chủ động, kịp thời và đạt những kết quả bước đầu tích cực, tạo nền tảng quan trọng để đưa Luật vào cuộc sống. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành Luật Thủ đô cũng bộc lộ không ít khó khăn, vướng mắc, cả trong tổ chức thực hiện lẫn từ chính các quy định của Luật. Đặc biệt, bối cảnh phát triển đất nước đang bước sang giai đoạn mới với yêu cầu đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế, phát triển nhanh và bền vững, điều đó yêu cầu Thủ đô Hà Nội phải thực sự đóng vai trò trung tâm, hạt nhân dẫn dắt phát triển vùng và cả nước. Đồng thời, thời gian qua, hệ thống pháp luật có nhiều thay đổi quan trọng, nhiều luật và nghị quyết của Quốc hội được ban hành với tư duy, cách tiếp cận mới, trong đó có không ít quy định đã trực tiếp tác động, sửa đổi hoặc làm "mờ" tính đặc thù của một số cơ chế trong Luật Thủ đô năm 2024. Yêu cầu tổ chức lại bộ máy chính quyền theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; yêu cầu phân quyền, phân cấp mạnh mẽ hơn; yêu cầu thí điểm các mô hình quản trị mới, nhất là trong các lĩnh vực đô thị, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số… cũng đặt ra những đòi hỏi mà Luật Thủ đô hiện hành chưa đáp ứng đầy đủ. Do đó, việc sửa đổi Luật Thủ đô không chỉ là cần thiết mà còn mang tính tất yếu, khách quan và cấp bách.
Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) hiện nay đã được Chính phủ trình Quốc hội, đang được Uỷ ban Pháp luật và Tư pháp Quốc hội, Bộ Tư pháp, UBND Thành phố chỉnh lý và tiếp thu theo ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Theo Nghị quyết số 119/2026/UBTVQH15 ngày 06/02/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026, dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI (tháng 4/2026).
UBND phường Yên Hòa trân trọng giới thiệu một số nội dung chính của dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi):
1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
- Phạm vi điều chỉnh: Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định về vị trí, vai trò của Thủ đô; chính sách, trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản trị và bảo vệ Thủ đô; liên kết, phát triển Vùng Thủ đô.
- Đối tượng áp dụng: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan nhà nước ở Trung ương; chính quyền thành phố Hà Nội và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
2. Bố cục của dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) gồm 9 Chương, 42 Điều, cụ thể như sau:
- Chương I: "Những quy định chung" (gồm 5 điều, từ Điều 1 đến Điều 5) quy định về phạm vi điều chỉnh; vị trí, vai trò, biểu tượng của Thủ đô; giải thích từ ngữ; nguyên tắc phân quyền cho chính quyền Thủ đô; áp dụng Luật Thủ đô.
- Chương II: Tổ chức chính quyền và quản trị Thủ đô (gồm 6 điều, từ Điều 6 đến Điều 11) quy định về đơn vị hành chính thuộc thành phố Hà Nội; nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy và chế độ công vụ; thẩm quyền về xây dựng, ban hành văn bản pháp luật; thí điểm cơ chế, chính sách; quản trị Thủ đô; bảo đảm trật tự, an toàn Thủ đô.
- Chương III: Quy hoạch, xây dựng và bảo vệ môi trường (gồm 6 điều, từ Điều 12 đến Điều 17), quy định về quy hoạch Thủ đô; quản lý, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp; cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị; phát triển đô thị, nhà ở; phát triển hạ tầng giao thông; bảo vệ môi trường Thủ đô và vùng Thủ đô.
- Chương IV: Phát triển văn hóa – xã hội (gồm 3 điều, từ Điều 18 đến Điều 20) quy định về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; phát triển giáo dục, đào tạo; phát triển hệ thống y tế, an sinh xã hội.
- Chương V: Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (gồm 4 điều, từ Điều 21 đến Điều 24), quy định về chính sách chung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chính sách đầu tư, khuyến khích phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thử nghiệm có kiểm soát; phát triển khu công nghệ cao.
- Chương VI: Nguồn lực phát triển Thủ đô (gồm 7 điều, từ Điều 25 đến Điều 31), quy định về sử dựng nguồn tài chính, ngân sách; thẩm quyền về đầu tư; tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng do Thành phố đầu tư, quản lý; quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên; thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực; thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, kinh doanh; phát triển khu thương mại tự do của Thủ đô và loại hình kinh tế mới.
- Chương VII: Vùng Thủ đô (gồm 2 điều, từ Điều 32 đến Điều 33), quy định về mục tiêu, nguyên tắc trong liên kết, phát triển vùng; đầu tư, quản lý dự án liên kết, phát triển vùng; nguồn vốn đầu tư chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng; trách nhiệm tổ chức thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng.
- Chương VIII: Giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình (gồm 7 điều, từ Điều 34 đến Điều 40), quy định về trách nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hoạt động liên kết, phát triển vùng với Thủ đô; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và Nhân dân Thủ đô; trách nhiệm giải trình của chính quyền Thành phố; miễn trừ, loại trừ trách nhiệm pháp lý.
- Chương IX: Điều khoản thi hành (gồm 2 điều, từ Điều 41 đến Điều 42), quy định về hiệu lực thi hành; trách nhiệm tổ chức thi hành; ban hành văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô; điều khoản chuyển tiếp.
Dự thảo Luật đề xuất giữ nguyên 03 điều; sửa đổi, bổ sung 47 điều; lược bỏ 04 điều của Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Do đó, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 8 Luật Ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đề nghị xây dựng dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15./.
Việt Nam - VĂN PHÒNG HĐND VÀ UBND